之[31a*1*1] chi. 嘗悔立日禮日禮潜鴆之[31a*1*2] Thường hối lập Nhật Lễ NHật Lễ tiềm chậm chi. 藝宗皇帝附昏德公楊日禮一年諱暊明宗弟三子也嫡母憲慈宣聖太皇太后親生母與憲慈同母即阮聖訓女嫁黎氏之所生女明宗次妃黎氏者也在位三年遜位二十七年壽七十四[31a*2*1] Nghệ Tông Hoàng Đế Phụ Hôn Đức Công Dương Nhật Lễ nhất niên [Huý phũ Minh Tông đệ tam tử dã. Đích mẫu Hiến Từ Tuyên Thánh Thái Hoàng Thái hậu thân sinh mẫu dữ Hiến Từ đồng mẫu tức Nguyễn Thánh Huấn nữ giá Lê thị chi sở sinh nữ, Minh tông thứ phi Lê thị giả dã. Tại vị tam niên tốn vị nhị thập thất niên thọ thất thập tứ . 帝削平内難光復洪圖䂓恢功烈炳[31a*4*30] Đế tước bình nội nan quang phục hồng đồ, quy khôi công liệt bính. 彪宇宙[31a*5*12] bưu vũ trụ. 然恭儉有餘而剛斲不足[31a*5*15] Nhiên cung kiệm hữu dư nhi cương trác bất túc. 外冦侵犯京畿内姦覬覦神噐社稷消剥以至於亡庚戌紹慶元年十月以前楊日禮大定二年[31a*5*25] Ngoại khấu xâm phạm kinh kì nội gian ký du thần khí xã tắc. tiêu bác dĩ chí ư vong. Canh Tuất Thiệu Khánh nguyên niên, [thập nguyệt dĩ tiền Dương Nhật Lễ Đại Định nhị niên . 明洪武三年春正月明帝親製祝文命朝天宫道士閻原復賫牲幣來致祭于傘圓山及瀘江諸水神[31a*7*19] Minh Hồng Vũ tam niên,] xuân chính nguyệt, Minh đế thân chế chúc văn mệnh Triều Thiên cung đạo sĩ Diêm Nguyên Phục tê sinh tệ lai trí tế vu Tản Viên sơn cập Lô Giang chư thuỷ thần. 夏四月閻原復入國[31a*9*12] Hạ tứ nguyệt, Diêm Nguyên Phục nhập quốc..
|  Trang: 31a |
Dịch Quốc Ngữ ấy. Bà từng hối tiếc về việc lập Nhật Lễ. Nhật Lễ ngấm ngầm đánh thuốc độc giết bà. NGHỆ TÔNG HOÀNG ĐẾ. (Phụ: Hôn Đức Công Dương Nhật Lễ, 1 năm). Tên huý là Phủ, con thứ ba của Minh Tông. Mẹ đích là Hiến Từ Tuyên Thánh thái hoàng thái hậu, mẹ đẻ là thứ phi họ Lê của Minh Tông, em gái cùng mẹ với Hiến Từ, do con gái của Nguyễn Thánh Huấn lấy một người họ lê sinh ra. Ở ngôi năm, nhường ngôi 27 năm, thọ 74 tuổi. Vua dẹp yên được tai nạn bên trong, khôi phục được cơ đồ to lớn. Công nghiệp lớn lao, sáng loà vũ trụ. Song cung kính kiệm ước thì có thừa mà cương nghị, quyết đoán lại không đủ, bên ngoài thì quân giặc xâm phạm kinh kỳ, bên trong thì gian thần ngấp nghé ngôi báu. Xã tắc suy mòn, rồi đến diệt vong. Canh Tuất, [Thiệu Khánh] năm thứ 1 [1370], (từ tháng 10 trở về trước là Dương Nhật lễ, Đại Định năm thứ 2, Minh Hồng Vũ năm thứ 3). Mùa xuân, tháng giêng, vua Minh tự làm bài chúc văn, sai Diêm Nguyên Phục, đạo sĩ cung Triều Thiên, đem lễ trâu và lụa, đền tế thần núi Tản Viên và |