黎文休曰徵側徵貳以女子一呼而九真日南合浦及嶺外六十五城皆應之其立國稱王易如反掌可見我越形勢足致覇王之業也[3a*1*1] Lê Văn Hưu viết: Trưng Trắc, Trưng Nhị dĩ nữ tử, nhất hô nhi Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cập Lĩnh Ngoại lục thập ngũ thành giai ứng chi, kì lập quốc xưng vương dị như phản chưởng, khả kiến ngã Việt hình thế túc trí bá vương chi nghiệp dã. 惜乎繼趙之後以至吳氏之前千餘年之間男子徒自低頭束手爲北人臣僕曾不愧二徵之女子吁可謂自棄矣[3a*3*17] Tích hồ kế Triệu chi hậu dĩ chí Ngô thị chi tiền, thiên dư niên chi gian, nam tử đồ tự đê đầu thúc thủ vi Bắc nhân thần bộc, tằng bất quý nhị Trưng chi nữ tử? Hu! Khả vị tự khí hĩ. 右徵女王起庚子終任寅凣三年[3a*7*1] Hữu Trưng Nữ Vương, khởi Canh Tí, chung Nhâm dần, phàm tam niên. 属東漢紀[3a*8*1] Thuộc Đông Hán KỶ. 癸卯四年漢建武春正月十九年[3a*9*1] Quý Mão, tứ niên [Hán Kiến Vũ Xuân, chính nguyệt, thập cửu niên]. 徵女王及其妹貳與漢[3a*9*14] Trưng nữ vương cập kì muội Nhị dữ Hán..
|  Page: 3a |
Vietnamese Translation Lê Văn Hưu nói: Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi ! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy. Trở lên là Trưng Nữ Vương, bắt đầu từ năm Canh Tý đến năm Nhâm Dần thì hết, tất cả 3 năm [40-42]. KỶ THUỘC ĐÔNG HÁN. Quý Mão, [Trưng Vương, năm thứ 4], [43], (Hán Kiến Vũ năm thứ 19). Mùa xuân, tháng giêng, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, |