史臣吳士連曰婦人謂嫁曰歸則夫家迺其家也[20b*1*1] Sử thần Ngô Sĩ Liên viết: Phụ nhân vị giá viết "quy" tắc phu gia nãi kì gia dã. 王女既嫁雅郎盍歸諸夫家乎何爲循嬴秦贅壻之俗以𦤶敗亡哉右趙越王起戊辰終庚寅凣二十三年[20b*2*2] Vương nữ ký giá Nhã Lang, hạp quy chư phu gia hồ? hà vi tuần Doanh Tần chuế tế chi tục, dĩ trí bại vong tai! Hữu Triệu Việt Vương, khởi Mậu Thìn, chung Canh Dần, phàm nhị thập tam niên. 後李紀[20b*5*1] Hậu Lí KỶ. 後李南帝[20b*6*1] Hậu Lí Nam Đế. 在位三十二年[20b*6*5] Tại vị tam thập nhị niên. 帝用詐術以併國望賊風而先降終始所行皆非義也[20b*7*1] Đế dụng trá thuật dĩ tịnh quốc, vọng tặc phong nhi tiên hàng, chung thuỷ sở hành giai phi nghĩa dã]. 帝姓李諱佛子前南帝族將也逐趙越王襲南帝位號都嗚鳶遷峯州[20b*8*1] Đế tính Lí, huý Phật Tử, tiền Nam Đế tộc tướng dã, trục Triệu Việt Vương tập Nam Đế vị hiệu, đô Ô Diên, thiên Phong Châu.
|  Page: 20b |
Vietnamese Translation Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Đàn bà gọi việc lấy chồng là "quy" thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái vua đã gả cho Nhã Lang thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục ở gửi rể của nhà Doanh Tần để đến nỗi bại vong? Trở lên là kỷ Triệu Vương, từ năm Mậu Thìn đến năm Canh Dần tất cả 23 năm [548-570]. KỶ HẬU LÝ. HẬU LÝ NAM ĐẾ. Ở ngôi 32 năm [571-602]. Vua dùng thuật gian trá để gồm lấy nước, mới thấy bóng giặc đã hàng trước, việc làm trước sau đều phi nghĩa. Vua họ Lý, tên huý là Phật Tử, là tướng người họ của Tiền [Lý] Nam Đế, đuổi Triệu Việt Vương, nối vị hiệu của Nam Đế, đóng đô ở thành Ô Diên, sau dời đến Phong Châu. |